Các bài viết

Các điều kiện để khéo chọn một máy câu xuôi/dọc - phần 2

 

3- Ống chứa cước (bô-bin)

 

Để kết thúc phần nhận xét về sự "bền bỉ" của một chiếc máy câu. Phải nói đến ống chứa cước/nồi cước/ổ cước.., hay là bô-bin (đọc trại theo tiếng pháp của chữ bobine). Trên một máy câu, ống cước là bộ phận trực tiếp chịu đựng "đắng cay" nhiều nhất.

 

Chúng ta đừng quên rằng, hàng trăm vòng cước được quấn quanh cái lõi của bô-bin, đã gây nên một sức ép khá lớn đến vài trăm kí lô trên trục quấn cước. Vì vậy, đối với những ống cước có sức chứa lớn, tức trên thân nó sẽ được quấn vào hàng trăm vòng cước câu bằng nylon hay dây bện chịu lực từ vài đến hàng chục kí lô, nhất thiết phải bằng kim loại (nhôm), trong khi đó, ống chứa cước bằng graphite, có thể được sử dụng trên những máy câu nhỏ, có sức chứa dây không nhiều với đường kính mỏng manh hơn, mục đích cho gọn nhẹ.

 

Vành mép ngoài của ống cước, trong cả 2 trường hợp, dù bằng kim loại hay bằng graphite, vẫn cần thiết được bọc thêm một lớp kim loại khác cứng hơn, bằng chất titan, để loại trừ đi sự mài mòn bởi dây câu, nhất là khi câu với loại dây bện (braid).

 

A : ống cước MATCH dùng với dây câu nhỏ, nhưng không cần thiết phải quá dài trong thao tác.

B : ống cước có kích cỡ thông dụng.

 

C- Bốn tính năng kỹ thuật

 

Mỗi một chủng loại máy câu luôn được thiết kế với các tính năng kỹ thuật tương đối khác nhau, như : tốc độ quấn hay thu dây, cấu hình của vòng quấn, sức chứa của ống cước... Những tính năng này, tùy thuộc vào các phương pháp câu ứng dụng.

 

1- Tốc độ quấn dây :

 

Gần như đa số các máy câu đều được thiết kế với hệ số quấn dây, ghi nhận trong khoảng 5:1, có nghĩa là khi bánh xe răng được vận hành bởi tay quay, quay tròn được 1 vòng, thì trục chính (rô-to) của máy câu sẽ quay được 5 vòng.

 

 

Nhưng, tốc độ thu dây, lại phụ thuộc vào đường kính của ống chứa cước : khi mà ống cước càng lớn, thì tốc độ cuốn dây càng nhanh. Với một chiếc máy câu cỡ trung, tốc độ quấn dây thường vào khoảng từ 60>70 cm/1 vòng tay quay. Đủ để đáp ứng nhiều tình huống câu. Nhưng trong thực tế, vẫn có những máy câu, được thiết kế với hệ số quấn dây cao hơn, 6:1 hay còn hơn thế nữa, ví dụ : một chiếc máy 3000/4000, có ống cước cỡ phổ thông, có thể đạt từ 85 cm > + 100 cm, cho 1 vòng quay của bánh xe răng (BBT: Điển hình như loại máy xuôi (spinning) Caldia Kix 4000 (86 cm/vòng tay quay) và Catalina 4500H (108 cm/vòng tay quay) của nhà Daiwa).

 

Loại máy này, được sản xuất để phục vụ cho một loại hình câu cần thiết đến tốc độ, như phương pháp : câu cá trắng kiểu Anh chẳng hạn (cần thu hồi dây một cách nhanh chóng, để tiếp tục "chuyến sau"), câu suối (cần nhanh hơn vận tốc nước chảy)... Ngoài ra, trên những chiếc máy câu hạng nặng dùng câu chép, surfcasting...vận tốc quấn dây cũng rất cao, do đường kính của ống cước khá lớn.

 

2- Phương pháp quấn dây :

 

Không thế chối bỏ được tính năng "các vòng dây phải được xếp đều trên ống cước" là : điều không cần thiết ! Một đường câu được sắp xếp đều đặn trên ống chứa cước, cho phép khi tuôn, dây sẽ không bị vướng mắc, luôn đi đôi với điều kiện : đạt tầm xa.

 

Với một phương pháp quấn dây tốt, người ta có thể châm được nhiều dây hơn trong ống cước, nhờ thế, có thể ứng dụng được loại bô-bin có thể hình dài hơn và rãnh quấn cước nông hơn, đạt hiệu năng về tầm ném lẫn bảo trì tốt chất klượng của cước câu (BBT : rãnh chứa cước nông luôn đi liền với sự gia tăng chiều dài của ống cước để bù khuyết cho rãnh chứa cước không đủ sâu. Kết quả : chiều dài của đường câu vẫn không thay đổi, lại thêm lợi điểm - phần cước câu nằm sát hay gần lõi sẽ ít bị biến dạng (không còn bị quá nhiều các vòng cước ở phía ngoài đè lên), thành quả này, cho phép dây câu tuôn một cách dễ dàng hơn khi liệng).

 

Ấn tượng này, bạn có thể nhận thấy qua cấu hình các ống cước của loại máy câu chép hay surfcasting hiện đại trên thị trường, đó là các bô-bin có đường kính to đùng, dài ngoằng, nhưng rãnh quấn cước thì lại cạn xịt (ảnh minh họa phía dưới) ! Tất cả những điều này, chỉ với mục đích : đạt khoảng cách tối đa.

 

A : Daiwa Infinity BRX - B : Shimano Big Baitrunner LC

 

Để có thể đạt được mục đích như vừa nói, các nhà sản xuất đã phải ứng dụng cùng lúc các kỹ thuật tân tiến : tốc độ dao động (spool oscillation system) của trục máy khi lên, xuống không đồng nhất (double oscillation), các vòng dây được xếp ghép nối nhau trên rãnh ống cước... Những kỹ thuật này, đã xếp dây đều đặn một cách không chỗ chê. Tuy tốn kém, nhưng chứng minh được hiệu năng.

 

Các vòng cước được quấn rất đều nhờ vào phương pháp quấn dây hiện đại

trên chiếc máy Fox Stratos FS 10000 (16 bạc đạn)

 

3- Ga-lê (galet) chống xoắn dây :

 

Được Daiwa trình làng vào thập niên 90, thế kỷ trước. Hệ thống ga-lê canh cải, đã trờ nên thông dụng, và được thiết kế hầu như trên tất cả các máy câu thời trang, được liệt vào hàng nghiêm túc, trừ những kiểu máy tiếng tăm như : Penn SS, Daiwa Black Gold, vẫn còn giữ nguyên cấu hình nguyên thủy (ga-lê thế hệ trước).

 

Với một cấu hình mới mẻ, "ga-lê chống xoắn dây" thường có đường kính to hơn ga-lê thuộc thế hệ cũ, khe dẫn cước của bộ phận này cũng được xẻ theo hình chóp nón thành 2 phần không đều, đôi khi chỉ có một chóp nón, bên trong được ráp thêm 1 bạc đạn, không tiếp giáp trực tiếp với vòng cung quấn dây như các ga-lê trước đây.

 

Bộ phận ga-lê (galet) chống xoắn dây

 

4- Bộ hãm (phanh/thắng) :

 

Một đĩa tròn có 2 mặt nhám ít/ nhiều, được kẹp vào giữa 2 cái đĩa khác, cứng hơn, bằng kim loại, và nhẵn mặt. Đó là hệ thống hãm sơ khai của một máy câu. Để có được một sức hãm lũy tiến, rất cần thiết khi người sử dụng muốn tăng/giảm độ nén từng chút một, các nhà sản xuất đã tăng thêm số lượng đĩa nén bên trong hệ thống, với mục đích làm tăng thêm bề mặt dành khi ma sát.

 

Những loại đĩa hãm cũ bằng : chất phớt dầu trộn amian, da thuộc... trước đây, đã hoàn toàn biến mất, để thay vào đó bằng các đĩa hãm Teflon. Một chất liệu cơ bản khá trơn, rất phù hợp với ứng dụng hãm của máy câu, vì nó không phản ứng hãm cứng một cách đột ngột, mà mang lại hiệu ứng tăng dần. Ngược lại, đối với các máy câu "nặng", khi lực hãm được xem như chủ yếu, thì những cái đĩa teflon này được thay thế bằng đĩa phíp carbon, có độ nhám ngoài mặt, chứ không trơn láng như đĩa Teflon, và chúng cho phép khoá chặt hoàn toàn bộ hãm, không một chút trơn trượt, lại ít phát nhiệt. Ngoài ra còn có các loại đĩa hãm khác, cơ bản làm bằng chất nylon hay fluorocarbon nữa. Và lợi dụng các hiệu năng này, người ta có thể pha trộn các loại đĩa bằng nhiều chất liệu khác nhau, trong cùng một hệ thống hãm, để đạt được các hiệu ứng mong muốn : hãm cứng, hãm từ từ, hay hỗn hợp.

 

Các đĩa hãm của dòng máy Abu Garcia Ambassadeur

 

Phanh trước hay phanh sau ?

 

Loại phanh trước (thường nằm trong ống cước), thường mạnh hơn, bởi lý do diện tích bề mặt các đĩa hãm thường rộng hơn, do đó tổng số diện tích chịu lực ma sát cũng lớn hơn. Với 2 hệ thống hãm như đã nêu trên, bạn sẽ đọc thấy trong catalogue của các nhà sản xuất, được mang các ký hiệu : FD (front drag) hay FA = phanh phía trước.

 

Với hệ thống phanh sau = RD (rear drag) hay RA, nút điều chỉnh luôn nằm ở phía sau đuôi máy. Những đĩa hãm của hệ thống phanh này, có đường kính nhỏ hơn, được bố trí bên trong khung sườn của máy, có lực hãm kém hơn là hệ thống có phanh trước. Đó là nguyên do, tại sao người ta chỉ tìm thấy hệ thống phanh sau chỉ được thiết kế ở loại máy câu hạng nhẹ. Ngược lại trên những loại máy câu nặng, hệ thống phanh trước luôn là hệ thống được chọn lựa để thiết kế.

 

A : hệ thống phanh sau - B: hệ thống phanh trước, trên 2 máy câu cùng thương hiệu, hạng phổ thông.

 

Không kể các hệ thống phanh phụ trên các máy câu chép với hệ thống baitrunner. Nhà sản xuất Mitchell còn có một loại máy mang danh hiệu Full control, được thiết kế một cần hãm tay để phanh phụ, rất tiện dụng. Một khi đã xả hết mức nút điều chỉnh sức nén của lò xo vào các đĩa hãm ở phía sau rồi. Chỉ với cần hãm tay, người dùng có thể thả dây tuôn tự do không một cách không lực cản, hay phanh cứng bô-bin mà không cần phải đụng đến nút điều chỉnh phía sau đuôi máy.

 

Máy Mitchell Full control 12 bạc đạn

A : cần hãm tay - B : nút điều chỉnh hệ thống phanh sau

 

Bản đối chiếu các từ ngữ tương đương trong các thiết kế kỹ thuật của các nhà sản xuất

 

SHIMANO

DAIWA

OKUMA

ABU

TICA

Bộ phận chống đảo chiều

Super-Stopper

Infinite Anti-Reverse

Quick Set Anti-reverse

 

 

Ga-lê đặc biệt chống xoắn

Power roller

Twist butter

EFR (Even Flow Roller)

 

- Power line Roller

- Anti twist system

Trục rô-to không chao đảo

Dyna Balance

Gyro Spin

RES (Rotor Equalizing System)

Accu-balanced

Computor balanced

Phanh phụ "combat"

Fighting Drag

 

 

 

 

Tốc độ dao động bất nhất

- 2 Speed Oscillation

- Aero Wrap II

- Varispeed

Advenced Locomotive Levelwind

EOS (Eliptical Oscillation system)

 

IOS system (Intelligent Oscillating System)

Ống cước dài, vành mép bọc titan

AR-C Spool

ABS (Anti Backflash system)

 

 

 

Bánh xe trái khế của trục chính được gia cố hay siêu chuẩn

- HD Gear

- Hypergear

- Axe Flottant

- Digigear

- Tough Drivegear

 

Eversilk coated

Worm Shaft System

Vòng cung mang ga-lê rỗng ruột

 

Air Bail

 

 

 

Bạc đạn cao cấp

S-ARB

CRBB (Corrosion Resistant Ball Bearing)

Sealed BB

- E2BB (Externe Elements Bearing)

- HPB (High Performance Bearing)

HPCR (High Performance Corrosion Resistant)

 

Khung sườn kim loại, gia cố.

 

- Metal Body

- Hardbodyz

ALC (AlumiLite Frame Construction)

 

Cybermetic Frame System)

Hệ thống phanh gia cố

Frein-S

 

DFD (Dual Force Drag)

Carbon matrix Drag System

 

Xếp/đóng tay quay bằng nút bấm

Manivelle one Touche

Manivelle one Touche

Manivelle one Touche

Manivelle one Touche

Manivelle one Touche

 

Tortue rùa (2008)

caucavietnam.com

Bạn có thắc mắc và cần đặt câu hỏi về bài viết này, xin vào đây

Hỏi & Đáp : forum caucavietnam.com